Năm 1805, khi Thái Trưởng Công Chúa lên đường về Kinh Đô, Hòa-Thượng Liên-Hoa có nhờ Công Chúa lo trùng tu chùa Quốc Ân, vì chùa nầy là do Tổ Nguyên-Thiều xây dựng từ năm 1683. Năm 1817, Hòa-Thượng Liên-Hoa được cử làm Tăng Cang chùa Thiên Mụ và làm pháp sư ở nội cung.
Cây Thanh Xà, Bạch Xà - loại cây leo rủ lâu năm rất dễ chăm sóc. Hoa thanh xà, bạch xà rất đẹp, là loại cây ban công rất đáng trồng. Giá SP: 80,000 VNĐ Cây Chanh Leo. Với hương vị chua dịu ngọt thanh cùng mùi hương kích thích cây chanh leo trở thành món nước uống yêu thích
Năm Càn Long thứ 25 ( 1760 ), tháng giêng, bà được ban phong hiệu "Hòa Gia" cùng vị hiệu Hòa Thạc công chúa, định chọn Ngạch phò là Phúc Long An, con trai của Đại học sĩ Phó Hằng. Ngày 25 tháng 3 (âm lịch) cùng năm, bà hạ giá lấy Phúc Long An, do đó được Hoàng đế ban cho phủ
Chương 22: Công Chúa, Người Không Mặc Quần Áo! Chương 23: Mê Tình Hương Bên Trong Hoa Huyệt; Chương 24: Chặt Đến Đầu Ngón Tay Cũng Không Chui Vào Được; Chương 25: Tử Câm, Thao Ta Đi! Chương 26: Nhìn Thấy Nàng Liền Muốn Mạnh Mẽ Thao; Chương 27: Mở Ra, Đâm Vào
Phim Công Chúa Hoài Ngọc lồng tiếng kể về một vị công chua tinh nghịch đanh đá. Khang Hy (Ái Tân Giác La Huyền Diệp) Nam nhân, hơn 20 tuổi, là 1 vị hoàng đế thành công và tinh ranh. Đáng tin và can đảm,ông cũng là một con người thấu hiểu và có trái tim nhân hậu.Đây cũng là vị hoàng đế trị vì lâu nhất trong
CBoUyqI. Sự tích Mẫu Liễu Hạnh – Quỳnh Hoa công chúa Mẫu Liễu Hạnh là ai ? Theo các nhà nghiên cứu về đạo Mẫu, trong Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Mẫu Thượng Thiên, vị đệ nhất Thánh Mẫu có quyền năng cai quản bầu trời, làm chủ các thế lực siêu nhiên như mây mưa, gió bão, sấm chớp… chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, bậc mẫu nghi thiên hạ, một trong 4 vị thánh bất tử của người thứ tự thì đầu tiên lớn nhất là ngọc hoàng sau ngọc hoàng chính là mẫu Liễu Hạnh. Mẫu liễu hạnh là một vị thần trong tín ngưỡng tâm linh của Việt Nam, tên gọi khác của bà chính là Bà Chúa Liễu Hạnh hay còn được gọi là Mẫu Liễu Hạnh. Bà vốn chính là một vị bốn thánh thần trong tứ Thánh và bà cũng chính là người nữ tử thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trải qua 3 lần xuống trần độ người từ các nhà nước phong kiến của Việt Nam thì bà đã được các triều đại phong làm Mẫu nghi thiên hạ hay còn được gọi là mẹ của muôn dân. Và cuối đời bà đã quy y cửa Phật. Tháng 3 giỗ Mẹ’ tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Người Việt có câu Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ’, trong đó tháng 3 âm lịch giỗ Mẹ là để tưởng nhớ công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn có từ hàng nghìn năm nay của người Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo. Nguồn tư liệu về bà Chúa Liễu Hạnh rất phong phú, bao gồm các truyền thuyết, thần tích, các gia phả, ngọc phả của các dòng họ sinh sống tại Phủ Giầy. Sự tích 3 lần giáng trần của Mẫu Liễu Hạnh Lần thứ nhất Bà giáng vào nhà họ Phạm, có tên là Phạm Tiên Nga ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định. Vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Ý Yên, Nam Định có một gia đình họ Phạm, hai vợ chồng đều là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai đầu thai làm con, từ đó người vợ mang thai. Vào đêm trước khi bà ra đời, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà rồi người vợ sinh một bé gái. Do đó, hai vợ chồng đặt tên con là Phạm Tiên Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Không lâu sau, thân phụ của bà qua đời, hai năm sau mẫu thân cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng nay là thôn La Ngạn, nơi đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga. Sau 3 năm để tang cha mẹ, bà bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện. Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn nay là núi Gôi đến Tịch Nhi nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung. Cùng với đó, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành… Năm 36 tuổi, bà đến bờ sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa, bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ thân phụ và thân mẫu. Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định; chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam; chùa Thiện Thành ở Đồn Xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn Xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Tháng Giêng năm Nhâm Thìn 1472, bà trở lại chùa Kim Thoa rồi tháng 9 năm ấy, bà trở về quê cũ tu sửa đền thờ tổ họ Phạm khang trang bề thế. Sau đó Bà lại đi chu du ở trong vùng, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái. Trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức 1473, trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, bà đã hoá thần về trời. Năm đó bà vừa tròn 40 tuổi. 2 Lần thứ hai Bà giáng vào nhà họ Lê, tên là Lê Thị Thắng hiệu Giáng Tiên ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Lần này, do phạm lỗi làm vỡ chén ngọc mà bà bị giáng xuống trần gian đầu thai vào một gia đình họ Lê ở thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản Nam Định, nay là thôn Tiên Hương, xã Kim Thái vào năm Đinh Tỵ 1557. Cha bà đặt tên con là Lê Thị Thắng và mang biệt hiệu là Giáng Tiên Tiên giáng trần. Khi trưởng thành, bà lấy chồng họ Trần ở cùng thôn rồi mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu 1577. Năm ấy, bà mới 20 tuổi. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định. Hiện nay làng Tiên Hương còn có nhà thờ tổ còn gọi là Phủ Nội đã được xây dựng từ 200 năm trước, thờ các vị tiên tổ hai họ Trần, Lê. Trong Phủ Nội còn có bản gia phả ghi rõ Mẫu Liễu Hạnh được sinh ra tại thôn này có cha là ông Lê Thái Công, mẹ là Trần Thị Phúc. 3. Lần thứ ba Bà giáng tại Nga Sơn, Thanh Hóa, được hơn 1 năm thì mãn hạn hồi tiên. Truyền thuyết kể rằng, vì tình nghĩa thuỷ chung với chồng con ở trần thế nên đến năm Canh Dần 1650, bà lại giáng sinh tại đất Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 10 tháng 10, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai. Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân 1668. Năm ấy bà vừa 18 tuổi. Đền thờ Bà là Phủ Sòng Sơn, Thanh Hoá. Sau đó bà hiển linh giúp dân giúp nước nên được các triều đại sắc phong là Mã Hoàng Công Chúa, Thượng Đẳng Tối Linh Tôn Thần’, Thượng Thượng Đẳng Tối Linh Vi Bách Thần Chi Thủ’ triều vua Lê Thần Tông, Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hòa Diệu Đại Vương’ triều vua Lê Huyền Tông. Bởi vậy trong văn thỉnh đức Thánh Mẫu mới có hát rằng Thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên Sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về Phủ Dày, Vân Cát thôn quê Nghĩa Hưng, Thiên Bản họ Lê cải trần Hình dung cốt cách thanh tân Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy’ Ngoài ra, còn nhiều huyền thoại khác về sự hiển linh của bà như việc bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc, hội kiến với trạng Bùng Phùng Khắc Khoan khi ông đi xứ Trung Quốc về… Trong phủ còn có hẳn một bài thơ về cuộc du ngoạn tao phùng giữa bà với trạng Bùng được chạm khắc rất rõ ràng. Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nới Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích như Phủ Nấp – Phủ Quảng Cung Đệ Nhất ở Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định là nơi Mẫu giáng trần lần đầu tiên. Nguy nga nhất là quần thể Phủ Dầy nơi Mẫu giáng trần lần thứ hai, rồi Đền Đồi Ngang – Phố Cát , Đền Sòng thuộc Thanh Hóa nơi Mẫu giáng hiện lần thứ ba. Ngoài ra còn có Phủ Tây Hồ, Đền Rồng, Đền Dâu, Quán Cháo…đều là những nơi Mẫu để lại thánh tích. Ngày hội chính tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày 3/3 âm lịch, tức là ngày Mẫu mất trong lần giáng sinh thứ hai, ngoài ra ngày rằm tháng 8 ở Phủ Tây Hồ cũng được mở tiệc rất long trọng. Post Views 135
Huyệt công tôn là huyệt quan trọng, có tác dụng điều trị nhiều bệnh lý, đặc biệt là các bệnh đường tiêu hóa. Huyệt nằm ở lòng bàn chân, việc xác định sai vị trí, đặc biệt là khi châm cứu có thể gây hậu quả nghiêm trọng do có mối liên hệ với các dây thần kinh. Huyệt công tôn còn có tên gọi khác là huyệt hoàng đế, đó là vì ngày xưa các thái y thường bấm huyệt này cho các vua chúa để thư giãn cơ thể sau khi xử lý việc triều chính. Ngoài ra, theo đông y, tim chính là vua của các cơ quan nội tạng, trong khi đó huyệt công tôn lại có mối liên hệ trực tiếp đến công tôn là huyệt thứ tư trong kinh kỳ, kinh kỳ là một trong số 15 huyệt thuộc nhóm huyệt Lạc, nó cũng là giao hội của mạch Xung. Bấm huyệt công tôn hoặc châm cứu là phương pháp được sử dụng thường xuyên để điều trị nôn, đau bụng kéo dài, đau dạ dày, rối loạn thần kinh, viêm ruột, vì huyệt có tính ích tỳ vị, hòa mạch xung, lý khí cơ và điều huyết hải. 2. Vị trí huyệt công tôn? Cách xác định huyệt công tôn Huyệt công tôn nằm ở dưới 2 gan bàn chân, phần lõm nhất nơi tiếp nối giữa xương nối xương cổ chân và ngón chân giải phẫu, vùng da dưới huyệt là các cơ gấp ngắn ngón chân cái, cơ dạng ngón chân cái, mặt dưới đầu xương bàn chân 1, cơ gấp ngón dài ngón chân cái; chịu chi phối của các nhánh dây thần kinh hông khoeo trong, tiết đoạn thần kinh L5. 3. Huyệt công tôn có tác dụng gì? Chữa bệnh dạ dày Huyệt công tôn có tác dụng hiệu quả trong điều trị các bệnh dạ dày, đặt biệt là khi kết hợp với các huyệt khác như trung quản, tam túc lý, nội quan, Bạn có thể thử bằng cách xoa làm ấm bụng theo chiều kim đồng hồ trong khoảng 5 phút, sau đó, dùng ngón cái day ấn huyệt công tôn ở hai lòng bàn chân trong 1 - 2 phút kết hợp hít thở huyệt công tôn điều trị đau dạ dày nên thực hiện vào buổi sáng khi vừa thức dậy hoặc buổi tối trước khi đi ngủ, đặc biệt là vào buổi tối nhằm giảm lo lắng, cải thiện chứng mất ngủ. Tránh bấm huyệt khi quá đói hoặc vừa ăn no vì không mang lại hiệu quả mà còn khiến bệnh trở nặng, gây ra các biến chứng nghiêm trọng khác. Chữa khó tiêu Bấm huyệt công tôn có thể giúp điều hòa nhu động ruột, chữa chứng khó tiêu. Để bắt đầu, bạn cần chọn tư thế thoải mái, xác định các huyệt công tôn, hợp cốc, thái xung, túc tam lý, tam âm giao. Sau đó, dùng ngón cái ấn giữ lần lượt, mỗi huyệt kéo dài 10 - 30 nên bấm huyệt mỗi ngày khoảng 2 lần cho đến khi triệu chứng khó tiêu giảm dần. Tránh nguy cơ tái phát bằng cách thay đổi thói quen ăn uống, tránh các loại thực phẩm không tốt, thay vào đó, ăn nhiều rau quả và nghỉ ngơi đúng giờ, đồng thời thay đổi nếp sinh hoạt lành mạnh hơn. Bấm huyệt công tôn có thể giúp điều hòa nhu động ruột, chữa chứng khó tiêu Chữa tiểu đường Bấm huyệt công tôn có thể giúp làm giảm triệu chứng bệnh tiểu đường. Cách thực hiện như sau Bệnh nhân ngồi tư thế thoải mái, đặt 2 bàn tay vào lưng, chà xuống vùng chậu, lặp lại động tác trong 1 phút đến khi nóng da. Xác định vị trí huyệt công tôn và huyệt lao cung, dùng ngón cái day ấn lần lượt vào hai huyệt, mỗi huyệt khoảng 1 phút. Sau đó, đặt bệnh nhân nằm ngửa, dùng 2 bàn tay đẩy từ trên xuống dưới vùng mép ngoài của bụng trong khoảng 3 phút. Hiệu quả tăng lên khi người bệnh kiên trì thực hiện hàng ngày và thực hiện chế độ ăn ít đường, tinh bột. 4. Ai chống chỉ định bấm huyệt công tôn? Huyệt công tôn được chống chỉ định trên các đối tượng là phụ nữ mang thai vì dễ làm tăng nguy cơ sảy thai, người nghiện rượu bia, chất kích thích. Người bị giãn tĩnh mạch, chấn thương xương khớp hoặc các bệnh ngoại khoa khác cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu. 5. Cách châm cứu, bấm huyệt công tôn Cách bấm huyệt công tôn Ngâm chân bằng nước ấm nhằm lưu thông khí huyệt, tăng hiệu quả điều trị trước khi bấm huyệtNgồi ở tư thế thoải mái, dùng tay xác định vị trí huyệtDùng ngón cái ấn và giữ huyệt với lực vừa phải đến khi thấy đau tức thì dừng lại, bấm quá mạnh có thể gây đau đột ngột dẫn đến ngất xỉu, động kinhMỗi lần bấm huyệt nên kéo dài từ 5 - 10 phút, vài lần mỗi ngày; để hiệu quả tốt hơn thì cần kết hợp với các huyệt khác như tỳ du, chương môn, lương khâu, Châm cứu huyệt công tôn Người bệnh ngồi ở tư thế thoải mái, dùng tay xác định vị trí huyệtBác sĩ dùng kim châm, châm thẳng hướng tới huyệt dũng tuyền, độ sâu từ - 1 thống, cứu từ 3 – 5 tráng và ôn cứu khoảng 5 – 10 phút. Lưu ý, huyệt nằm ở đầu mối các dây thần kinh, nếu châm sai có thể gây hậu quả nghiêm trọngMỗi người bệnh sẽ có liệu trình điều trị riêng, thông thường thì kéo dài 20 ngàyLiệu trình kéo dài tùy theo tình trạng của người bệnh, nhưng để có kết quả tốt nhất nên kiên trì trong khoảng 20 ngày Ngâm chân bằng nước ấm nhằm lưu thông khí huyệt, tăng hiệu quả điều trị trước khi bấm huyệt công tôn 6. Cách kết hợp huyệt công tôn với các huyệt khác Huyệt công tôn có thể phối với các huyệt khác nhằm gia tăng hiệu quả điều trị, cụ thể có thểPhối với huyệt phong long Vị 40, huyệt chiên trung huyệt trung khôi có tác dụng điều trị nôn mửa có tiết đờm dãiPhối với huyệt thiên xu Vị 25, huyệt hạ quản có tác dụng điều trị bệnh lỵ cấp nghiêm trọngPhối với huyệt tam túc lý Vị 36, huyệt giải khê Vị 41, huyệt trung quản có tác dụng điều trị đau dạ dàyPhối với huyệt chương môn huyệt dương lăng tuyền huyệt chi câu Tam có tác dụng điều trị đau nhức hạ sườnPhối với huyệt nội đình Vị 44 và huyệt lệ đoài Vị 45 có tác dụng điều trị sốt rét lâu ngày khiến người bệnh ăn uống kémPhối với huyệt xung dương Vị 42 và huyệt túc tam lý Vị 36 có tác dụng điều trị đau nhức gót với huyệt túc tam lý Vị 36, huyệt bách lao, huyệt chí dương huyệt uyển cốt Tiểu huyệt trung quản có tác dụng điều trị vàng da khiến chân tay sưng, mồ hôi ra vàng với huyệt túc tam lý Vị 36, huyệt tuyệt cốt huyệt thân mạch Bàng có tác dụng điều trị chân yếu không di chuyển đượcPhối với huyệt nội quan Tâm trị chứng đau bụngPhối với huyệt vị du Bàng huyệt chí dương huyệt tỳ du Bàng có tác dụng điều trị vàng daPhối với huyệt túc tam lý Vị 36, huyệt nội đình Vị 44 có tác dụng điều trị chướng bụng khó tiêuPhối với huyệt ủy trung Bàng huyệt đởm du Bàng huyệt tiểu trường du Bàng huyệt thần môn huyệt chí dương huyệt uyển cốt Tiểu có tác dụng điều trị vàng da toàn thân do rượuPhối với huyệt nội quan Tâm có tác dụng điều trị đau tức bụngPhối với huyệt thúc cốt Bàng và huyệt bát phong có tác dụng điều trị tê, đau chânPhối với huyệt túc tam lý Vị 36, huyệt nội đình Vị 44, huyệt nội quan tâm có tác dụng điều trị xuất huyết tiêu hóaPhối với tề biên tứ huyệt, huyệt nội quan Tâm có tác dụng điều trị viêm đại tràng cấp và viêm đại tràng mạn tínhPhối với huyệt túc tam lý Vị 36, huyệt nhiên cốc huyệt dũng tuyền huyệt lương khâu Vị 34 có tác dụng điều trị bệnh phongPhối với huyệt dũng tuyền có tác dụng điều trị nôn và đau bụng cấpPhối với huyệt túc tam lý Vị 36, huyệt tứ phùng có tác dụng hóa trệ, hòa vị, tiêu thực và giáng nghịchPhối với huyệt thái xung và huyệt nội quan Tâm có tác dụng giáng nghịch, lý khí, hòa vị và sơ công tôn là huyệt quan trọng, có tác dụng điều trị nhiều bệnh lý, đặc biệt là các bệnh đường tiêu hóa. Tuy nhiên, để điều trị bệnh hiệu quả, việc tìm kiếm đúng huyệt công tôn và kết hợp với huyệt đạo khác cũng rất quan trọng. Vì thế, khi thực hiện bấm huyệt công tôn điều trị bệnh hiệu quả thì người bệnh nên đến các cơ sở y tế, phòng khám đông y để các bác sĩ và các kỹ thuật viên vật lý trị liệu thực hiện. Please dial HOTLINE for more information or register for an appointment HERE. Download MyVinmec app to make appointments faster and to manage your bookings easily. XEM THÊM Headache after massage Causes and treatment When should you avoid reflexology? What is acupressure and how is it different from massage?
Tuy vậy trong nghi thức hầu đồng thì không có Chầu Quỳnh, Chầu Quế. Cũng có quan điểm cho rằng Chầu Quỳnh là Chầu Cửu tỉnh, Chầu được giao coi sóc công việc trong phủ Sòng xứ Thanh, nơi nổi tiếng linh thiêng. Chầu Quế là Chầu đệ nhất thượng thiên, chầu cùng với Chầu Quỳnh là hai người thân cận nhất bên Mẫu, thường biến hiện, rong chơi khi sơn lâm rừng xanh núi đỏ, khi vào Nam ra Bắc … Chầu anh linh hiển hách, thường giáng phúc trừ tai, thẳng tay trừng trị kẻ gian ác, ban tài tiếp lộc cho người hiền lương. Nơi đâu có đền Mẫu, nơi đó Chầu bà ngự về. Chầu được giao giữ sổ sách Tam Tòa, coi sóc chốn nội cung Phủ Dày – Nam Định. Vì vậy Chầu quỳnh, Chầu quế thuộc Thập vị thánh chầu và được thỉnh hầu trong nghi thức hầu đồng. Theo tích xưa thì Quỳnh hoa công chúa, Quế hoa công chúa là hai tướng của Hai Bà Trưng, sinh ra ở Hà giang, theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa, khi đường cùng thì chạy về quê nhà và tự vẫn ở Sông Lô. Sau hai bà hiển linh và hầu Mẫu Tam Tòa. Được Ngọc Hoàng sắc phong Quỳnh Hoa công chúa, Quế Hoa công chúa. Theo Sách Đại nam nhất thống chí, Thần tích Đền Ỷ La và truyền thuyết nhân gian kể lại xưa có hai nàng công chúa con Vua Hùng là công chúa Phương Dung Quỳnh hoa công chúa – Bia văn tại Đền và công chúa Ngoc Lân Mai hoa công chúa , một hôm theo xa giá đến bờ Sông Lô thuộc thôn Hiệp Thuận, nửa đêm mưa to gió lớn, hai nàng đều hóa, nhân dân trong vùng lập Đền thờ. Đến Triều Vua Cảnh Hưng 1738 Đền được xây dựng quy mô hơn, Năm 1767 nhân dân xây thêm Đền Thượng Đền Sâm Sơn, Đền Núi Dùm ở phía tả Sông Lô, phía thượng nguồn, thuộc chân núi dùm, thuộc xã Tràng Đà, thành phố Tuyên Quang, thờ Công chúa Ngọc Lân – người em. Đền Hiệp Thuận ở hạ lưu gọi là Đền Hạ Tuyên Quang Đền Tam cờ, thuộc tổ 4, phường Tân Quang, thị xã Tuyên Quang, thờ Công chúa Phương Dung – người chị. Theo truyền thuyết hai ngôi Đền có nhiều linh ứng nên từ xa xưa hai nàng được tôn là Thánh Mẫu. Khi nhà Trần đi qua Sông Lô thấy Miếu ven đường Tức Đền Tam Cờ ngày nay và Đền Cấm, Núi Dùm, vào bái yết cầu đảo, được hai bà phù giúp, sau khi thắng trận sắc phong Nhị vị tiên nương Thủy cung công chúa. Hai bà hầu cận Mẫu Cửu Trùng, Tam Tòa Thánh Mẫu, nhân dân tôn xưng là Quỳnh nương, Quế nương công chúa. Hai bà là sự hóa thân của Tam giới Thiên, Thượng, Thoải, nên môi trường nào thì phong Ngài theo màu sắc của môi trường đó. Tìm hiểu về văn hóa tâm linh của người Việt từ xưa tới nay. Phong tục tập quán, tín ngưỡng Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Đạo Mẫu.
hoa huyệt công chúa